This is my blog: vuvanson.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my blog: sonblog.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my blog: vi-et.tk

Go to Blogger Vi-et Spaces.

This is my facebook: https://www.facebook.com/vusonbk

Go to Facebook Blogger Vi-et Spaces.

This is my facebook page: https://www.facebook.com/ViEtSpaces

Go to Facebook Page Blogger Vi-et Spaces.

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2020

TẬP LÀM THƠ NĂM CHỮ


NHẬP MÔN
Thực chất, thơ năm chữ
Phong cách Thái Bá Tân,
Đơn giản là văn nói
Có kèm theo chút vần.
Viết nó không khó lắm.
Các bác muốn thì đây,
Tôi xin mách vài nước.
Đại khái như thế này.
Một, là phải có ý,
Có ý mới làm thơ.
Cố tìm ý độc đáo,
Triết lý và bất ngờ.
Hai, là khi thể hiện,
Chỉ dùng từ bình dân,
Nôm na và dễ hiểu.
Ba, là khâu ghép vần.
Vần có bằng và trắc.
Câu một với câu ba,
Câu hai với câu bốn
Phải vần nhau mượt mà.

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2020

Hướng dẫn cách đọc kết quả xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu trên máy tự động

Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu là một trong các xét nghiệm thường quy được thực hiện khi khám sức khỏe, khám bệnh, cấp cứu và theo dõi quá trình điều trị của bệnh nhân. Sau đây là cách đọc và ý nghĩa của sự thay đổi các chỉ số trong xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu được thực hiện trên máy tự động:
1. RBC (Red Blood Cell – Số lượng hồng cầu trong một thể tích máu):
- Giá trị bình thường: Nữ: 3.8 – 5.0 T/L; Nam: 4.2 – 6.0 T/L.
- Tăng: mất nước, chứng tăng hồng cầu.
- Giảm: thiếu máu.
2. HBG (Hemoglobin – Lượng huyết sắc tố trong một thể tích máu):
- Huyết sắc tố là một loại phân tử protein của hồng cầu có vai trò vận chuyển oxy từ phổi đến các cơ quan trao đổi và nhận CO2 từ các cơ quan vận chuyển đến phổi trao đổi để thải CO2 ra ngoài và nhận oxy. Huyết sắc tố đồng thời là chất tạo màu đỏ cho hồng cầu.
- Giá trị bình thường: Nữ: 120 - 150 g/L; Nam: 130-170 g/L.
- Tăng: mất nước, bệnh tim và bệnh phổi,...
- Giảm: thiếu máu, chảy máu và các phản ứng gây tan máu,...
3. HCT (Hematocrit – Tỷ lệ thể tích hồng cầu/ thể tích máu toàn bộ):
- Giá trị bình thường: Nữ: 0.336-0.450 L/L; Nam: 0.335-0.450 L/L.
- Tăng: dị ứng, chứng tăng hồng cầu, hút thuốc lá, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh mạch vành, ở trên núi cao, mất nước, chứng giảm lưu lượng máu,...
- Giảm: mất máu, thiếu máu, thai nghén,...
4. MCV (Mean corpuscular volume - Thể tích trung bình của hồng cầu):
- Được tính từ hematocrit và số lượng hồng cầu.
- Giá trị bình thường: 75 - 96 fL
- Tăng: thiếu hụt vitamin B12, thiếu acid folic, bệnh gan, nghiện rượu, chứng tăng hồng cầu, suy tuyến giáp, xơ hoá tuỷ xương,…
- Giảm: thiếu hụt sắt, hồng cầu thalassemia và các bệnh hemoglobin khác, thiếu máu trong các bệnh mạn tính, suy thận mạn tính, nhiễm độc chì,...
5. MCH (Mean Corpuscular Hemoglobin – Lượng huyết sắc tố trung bình có trong một hồng cầu):
- Giá trị bình thường: 24- 33pg.
- Tăng: thiếu máu đa sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh.
- Giảm: bắt đầu thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu nói chung, thiếu máu đang tái tạo
6. MCHC (Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration – Nồng độ huyết sắc tố trung bình trong một thể tích máu):
- Giá trị này được tính bằng cách đo giá trị của hemoglobin và hematocrit.
- Giá trị bình thường: 316 – 372 g/L
- Tăng: thiếu máu đa sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh.
- Trong thiếu máu đang tái tạo, có thể bình thường hoặc giảm do giảm folate hoặc vitamin B12,…
7. RDW (Red Cell Distribution Width – Độ phân bố hồng cầu):
- Giá trị bình thường: 9 -15%.
- Giá trị này càng cao nghĩa là độ phân bố của hồng cầu thay đổi càng nhiều.
+ RDW bình thường và:
. MCV tăng, thường gặp trước bệnh bạch cầu.
. MCV bình thường: Thiếu máu trong các bệnh mạn tính, mất máu hoặc tan máu cấp tính, bệnh enzym hoặc bệnh hemoglobin không thiếu máu.
. MCV giảm: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, thalassemia dị hợp tử
+ RDW tăng và:
. MCV tăng: thiếu hụt vitamin B12, thiếu hụt folate, thiếu máu tan huyết do miễn dịch, ngưng kết lạnh, …
. MCV bình thường: thiếu sắt giai đoạn sớm, thiếu hụt vitamin B12 giai đoạn sớm, thiếu hụt folate giai đoạn sớm, thiếu máu do bệnh globin,...
. MCV giảm: thiếu sắt, bệnh HbH, thalassemia,...
8. WBC (White Blood Cell – Số lượng bạch cầu trong một thể tích máu):
- Giá trị bình thường: 4.0 đến 10.0G/L.
- Tăng: viêm nhiễm, bệnh máu ác tính, các bệnh bạch cầu,...
- Giảm: giảm sản hoặc suy tủy, thiếu hụt vitamin B12 hoặc folate, nhiễm khuẩn,...
9. NEUT (Neutrophil - Bạch cầu trung tính):
- Giá trị tăng cao trong nhiễm khuẩn cấp, nhồi máu cơ tim cấp, stress, ung thư, bệnh bạch cầu dòng tuỷ,…
- Giảm: nhiễm virus, giảm sản hoặc suy tủy, các thuốc ức chế miễn dịch, xạ trị,...
10. LYM (Lymphocyte - Bạch cầu Lymphô):
- Giá trị bình thường: 19- 48% (0.9 – 5.2 G/L).
- Tăng: nhiễm khuẩn mạn, lao, nhiễm một số virus khác, bệnh CLL, bệnh Hogdkin,…
- Giảm: giảm miễn nhiễm, nhiễm HIV/AIDS, ức chế tủy xương do các hóa chất trị liệu, các ung thư, tăng chức năng vỏ thượng thận, sử dụng glucocorticoid…
11. MONO (Monocyte - Bạch cầu Mono)
- Giá trị bình thường: 3.4 - 9% (0.16 -1 G/L).
- Tăng: chứng tăng bạch cầu đơn nhân do nhiễm khuẩn của nhiễm virus khác, bệnh bạch cầu dòng mono, trong rối loạn sinh tủy,…
- Giảm trong các trường hợp thiếu máu do suy tủy, các ung thư, sử dụng glucocorticoid…
12. EOS (Eosinophil – Bạch cầu đa múi ưa axit)
- Giá trị bình thường: 0- 7% (0- 0.8 G/L).
- Tăng: nhiễm ký sinh trùng, dị ứng,…
13. BASO (Basophil – Bạch cầu đa múi ưa kiềm)
- Giá trị bình thường: 0 - 1.5% ( 0 - 0.2G/L)
- Tăng: một số trường hợp dị ứng, bệnh bạch cầu, suy giáp.
14. LUC (Large Unstained Cells)
- Có thể là các tế bào lympho lớn hoặc phản ứng, các monocyte hoặc các bạch cầu non.
- Giá trị bình thường: 0- 4% (0- 0.4G/L).
- Tăng: bệnh bạch cầu, suy thận mạn tính, phản ứng sau phẫu thuật và sốt rét, nhiễm một số loại virus (LUC bình thường ko loại trừ nhiễm virus vì không phải tất cả các virus có thể làm tăng số lượng LUC),…
15. PLT (Platelet Count – Số lượng tiểu cầu trong một thể tích máu):
- Tiểu cầu không phải là một tế bào hoàn chỉnh, mà là những mảnh vỡ của các tế bào chất (một thành phần của tế bào không chứa nhân của tế bào) được sinh ra từ những tế bào mẫu tiểu cầu trong tủy xương.
- Tiểu cầu đóng vai trò sống còn trong quá trình đông máu, có tuổi thọ trung bình 5- 9 ngày.
- Giá trị bình thường: 150–350G/L.
- Số lượng tiểu cầu quá thấp có thể gây ra chảy máu. Còn số lượng tiểu cầu quá cao sẽ hình thành cục máu đông, làm cản trở mạch máu có thể gây nên đột quỵ, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch phổi, tắc nghẽn mạch máu,...
- Tăng: rối loạn tăng sinh tuỷ xương, bệnh tăng tiểu cầu vô căn, xơ hoá tuỷ xương, sau chảy máu, sau phẫu thuật cắt bỏ lách, các bệnh viêm.
- Giảm: ức chế hoặc thay thế tuỷ xương, các chất hoá trị liệu, phì đại lách, đông máu trong lòng mạch rải rác, các kháng thể tiểu cầu, ban xuất huyết sau truyền máu, giảm tiểu cầu do miễn dịch đồng loại ở trẻ sơ sinh...
16. PDW (Platelet Disrabution Width – Độ phân bố tiểu cầu):
- Giá trị bình thường: 6 - 11%.
- Tăng: K phổi, bệnh hồng cầu liềm, nhiễm khuẩn huyết gram dương, gram âm.
- Giảm: nghiện rượu.
17. MPV (Mean Platelet Volume - Thể tích trung bìnhcủa tiểu cầu):
- Giá trị bình thường: 6,5 - 11fL.
- Tăng: bệnh tim mạch, tiểu đường, hút thuốc lá, stress, nhiễm độc do tuyến giáp...
- Giảm: thiếu máu do bất sản, thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, hoá trị liệu ung thư, bạch cầu cấp...

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2020

Bức "huyết thư" dậy sóng của bệnh nhân ung thư 27 tuổi: Chỉ khi có bệnh mới biết bệnh tật đáng sợ thế nào!

Đây là lời tâm sự của một thanh niên 27 tuổi sau khi mắc bệnh ung thư , kể lại việc anh ấy đã mắc bệnh ung thư như thế nào. Câu chuyện được lan truyền mạnh mẽ trên mạng xã hội Trung Quốc, thức tỉnh nhiều người.
Tôi không phải là một người thích làm màu cho nổi tiếng, tôi đang nói về những sự thật được viết bằng máu của chính mình. Tôi năm nay 27 tuổi, bị bệnh bạch cầu cấp dòng lympho T, hay còn gọi là ung thư máu.
Căn bệnh có thể gây tử vong trong vòng 3 tháng
Các bác sĩ nói rằng, bệnh của tôi có tỷ lệ mắc là 0,67/100.000. Bệnh nhân có thể chết trong vòng 3 tháng kể từ khi khởi phát, và tỷ lệ sống sót trên lâm sàng là hơn một năm.
Tương tự như nam diễn viên Xu Ting và "cảnh sát giao thông đẹp trai nhất Thành Đô" Qin Sihan, người đã chết cách đây vài năm, theo thông tin tôi tìm được trên mạng, họ đều mắc bệnh này. Vì vậy, bạn nên hiểu đại khái căn bệnh của tôi "nham hiểm" như thế nào.
Giai đoạn sống cùng với bệnh tật này đã cho tôi thấy bệnh ung thư ngày càng trẻ hóa và ngày càng có nhiều người trẻ mắc bệnh như tôi. Khi chúng ta còn trẻ, khi cha mẹ chúng ta đang bạc tóc chờ đợi sự báo hiếu thì thậm chí, chúng ta có thể ra đi sớm hơn họ, ít ai có thể trải qua nỗi đau như thế này.
Là một bệnh nhân, tôi muốn giải thích mọi thứ bằng kinh nghiệm của bản thân, hy vọng sẽ thu hút sự chú ý của mọi người!

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2020

iSCSI là gì và cách thức hoạt động như thế nào?

 
iSCSI (đọc là: ai-x-kơ-zi) là từ viết tắt của Internet Small Computer Systems Interface. iSCSI là một giao thức lớp vận chuyển hoạt động trên giao thức TCP (Transport Control Protocol). Nó cho phép truyền dữ liệu SCSI ở block-level giữa iSCSI initiator và storage target trên các mạng TCP / IP. iSCSI hỗ trợ mã hóa các gói mạng và giải mã khi đến đích.
SCSI là một tập các lệnh theo block kết nối các thiết bị điện toán với bộ lưu trữ được nối mạng, bao gồm cả phương tiện lưu trữ và đọc/ghi dữ liệu.
Giao thức này sử dụng các initiator để gửi các lệnh SCSI đến thiết bị lưu trữ đích (storage target) trên các máy chủ từ xa. Storage target có thể là SAN, NAS, bộ lưu trữ tape, máy chủ đa năng – cả SSD và HDD – LUN hoặc các loại khác. Giao thức này cho phép các quản trị viên khai thác tốt hơn các loại hình lưu trữ được chia sẻ bằng cách cho phép máy chủ lưu trữ dữ liệu vào bộ lưu trữ được kết nối qua mạng từ xa và ảo hóa thành phần lưu trữ từ xa cho các ứng dụng yêu cầu lưu trữ trực tiếp.
Iscsi
Giao thức iSCSI đóng một vai trò quan trọng trong nhiều cấu hình mạng khác nhau.

Các thành phần của iSCSI

iSCSI initiator, HBA hoặc iSOE

Các công nghệ này gói các lệnh SCSI vào các gói mạng và hướng chúng đến storage target. Các iSCSI initiator dựa trên phần mềm là một trong số các lựa chọn ít chí phí nhất và thường được kèm sẵn trong hệ điều hành (HĐH).
Host-based Adapter (HBA) là một thiết bị phần cứng. HBA đắt hơn phần mềm, nhưng hiệu suất của nó cao hơn với nhiều chức năng hơn. Một phần cứng thay thế cho thiết bị HBA đầy đủ là card iSOE với công cụ giảm tải cho iSCSI. Thiết bị này giảm tải các hoạt động của initiator khỏi bộ xử lý chính của máy chủ, giúp giải phóng các chu kỳ CPU trên các máy chủ lưu trữ.

iSCSI target

iSCSI vận chuyển các gói trên các mạng TCP / IP. Mục tiêu iSCSI là bộ lưu trữ từ xa, xuất hiện cho hệ thống máy chủ như một ổ đĩa cục bộ. Giao thức iSCSI liên kết các máy chủ và lưu trữ qua các mạng IP: LAN, WAN và Internet.
Khi các gói đến đích iSCSI, giao thức sẽ phân tách các gói để trình bày các lệnh SCSI cho hệ điều hành. Nếu iSCSI đã mã hóa gói mạng, nó sẽ giải mã gói ở giai đoạn này.

Hiệu suất iSCSI

Hiệu suất của iSCSI phụ thuộc nhiều vào các công nghệ cơ bản như 10 Gigabit Ethernet (10 GbE) và công nghệ bridging trong trung tâm dữ liệu.
  • 10 GbE. Tốc độ kết nối mạng Ethernet có tác động lớn nhất đến hiệu suất của iSCSI. Mặc dù các mạng nhỏ hơn như 1 GbE vẫn có thể chạy các giao thức iSCSI, tốc độ chậm hơn, và chúng không đủ cho các trung tâm dữ liệu cỡ vừa hoặc của doanh nghiệp. Quản trị viên có thể tăng một số hiệu suất trên mạng phụ 10 GbE bằng cách thêm nhiều NIC, nhưng một thiết bị switch duy nhất sẽ không tăng tốc độ cho nhiều cổng iSCSI. 10 GbE là tốc độ được đề nghị cho môi trường lưu trữ doanh nghiệp. Bởi vì nó là một đường pipe rộng, có rất ít cuộc gọi cho nhiều NIC. Thay vào đó, việc thêm các adapter chuẩn máy chủ sẽ tăng tốc các gói iSCSI đi qua mạng 10 GbE.
  • Bridging Data Center. Bridging là một bộ các phần mở rộng Ethernet bảo vệ lưu lượng SCSI chống mất dữ liệu. Điều này cho phép iSCSI cạnh tranh với Fibre Channel, chuẩn có độ tin cậy cao, đã chạy qua các kết nối không mất dữ liệu trong nhiều năm.
  • Multipathing. Multipathing  I/O tăng tốc các gói mạng iSCSI và hầu hết các hệ điều hành đều hỗ trợ công nghệ này. Các tính năng đa luồng iSCSI điển hình gán nhiều địa chỉ cho một phiên iSCSI duy nhất, giúp tăng tốc vận chuyển dữ liệu.
  • Jumbo frames. Các frame có kích thước 9000 byte này làm giảm tắc nghẽn trên các mạng Ethernet chậm không sử dụng 10 GbE, giúp tăng hiệu suất khoảng 10-20%. Jumbo frames sẽ không tăng nhiều hiệu suất trong 10 GbE.

iSCSI và Fibre Channel: Hai phương pháp chính để lưu trữ truyền dữ liệu

iSCSI và Fibre Channel (FC) là phương pháp hàng đầu để truyền dữ liệu đến bộ lưu trữ từ xa. Nhìn chung, FC là một mạng lưu trữ hiệu năng cao nhưng đắt tiền, đòi hỏi các bộ kỹ năng quản trị chuyên biệt. iSCSI ít tốn kém hơn và đơn giản hơn để triển khai và quản lý, nhưng có độ trễ cao hơn.
Có các giao thức khác hoạt động bằng cách kết hợp cả hai loại. Phổ biến nhất có giao thức Fibre Channel over IP (FCIP), một giao thức tunneling để đồng bộ dữ liệu SAN-to-SAN, chúng bao bọc các FC frame và vận chuyển trên TCP stream; Loại thứ hai là Fibre Channel over Ethernet (FCoE) cho phép FC SAN vận chuyển các gói dữ liệu qua mạng Ethernet.

Khi nào nên triển khai iSCSI qua FC?

  • Khi chi phí là một vấn đề. iSCSI tiết kiệm chi phí so với FC vì nó kết nối các máy chủ ứng dụng với bộ nhớ chia sẻ mà không cần phần cứng hoặc cáp đắt tiền.
  • Khi bạn muốn kết nối nhiều máy chủ với một storage target. Tỷ lệ over-subscription là số lượng máy chủ lưu trữ mà FC hoặc iSCSI sẽ hỗ trợ trên một thiết bị đích. Tỷ lệ FC thường hỗ trợ từ 4:1 đến 20:1, nhưng iSCSI có thể hỗ trợ nhiều máy chủ hơn cho một storage target.
  • Khi kỹ năng là một mối quan tâm. FC SAN rất tốn kém để triển khai và bảo trì, và yêu cầu quản trị viên với các kỹ năng chuyên biệt. Một iSCSI SAN chạy trên các mạng Ethernet hiện có và IT-man nói chung có thể tìm hiểu cách cài đặt và vận hành chúng.

iSCSI và storage target

Các target tiêu biểu bao gồm SAN, NAS, tape và LUN.
  • SAN thể hiện các kho lưu trữ ảo được chia sẻ cho nhiều máy chủ. Đối với Ethernet SAN, máy chủ lưu trữ sử dụng iSCSI để vận chuyển dữ liệu dạng block-based đến SAN.
  • NAS hỗ trợ các iSCSI target. Ví dụ, trong môi trường Windows, HĐH đóng vai trò là initiator, do đó, chia sẻ iSCSI trên NAS hiển thị dưới dạng ổ đĩa cục bộ.
  • Tape. Nhiều hãng cung cấp tape cho phép hỗ trợ iSCSI trên các ổ tape của họ, cho phép những iSCSI initiator sử dụng ổ tape làm storage target.
  • LUN. Một Logical Unit Number xác định duy nhất một tập các thiết bị lưu trữ vật lý hoặc được ảo hóa. Bộ khởi tạo iSCSI ánh xạ tới các LUN iSCSI cụ thể làm target của nó. Khi nhận được gói mạng SCSI, target sẽ phục vụ các LUN của nó dưới dạng lưu trữ có sẵn.

Hạn chế của iSCSI

Việc triển khai iSCSI không phải quá khó, đặc biệt là với các giao thức được xác định bằng phần mềm . Nhưng việc cấu hình initiator và iSCSI target cần thêm các bước, và kết nối 10 GbE là điều cần thiết để đạt hiệu suất cao. Kinh nghiệm để đạt lưu lượng truyền dẫn cao là chạy iSCSI traffic trên một mạng vật lý riêng hoặc mạng LAN ảo riêng biệt.
Bảo mật là một mối quan tâm khác, vì iSCSI dễ bị “sniffing” các packet. Packet sniffing là loại cyberattack trong đó phần mềm độc hại hoặc thiết bị của bên tấn công nắm bắt các gói di chuyển trên một mạng dễ bị tấn công. Quản trị viên có thể thực hiện các biện pháp bảo mật để ngăn chặn điều này, nhưng nhiều quản trị viên trong các công ty nhỏ bỏ qua các biện pháp bảo mật cần thiết để đơn giản hóa việc quản lý iSCSI.
Đây hiếm khi là một kế hoạch tốt, vì việc phòng thủ chống lại packet sniffing có sẵn và dễ dàng. Các biện pháp phòng vệ chính chống lại kiểu tấn công này là Challenge-Handshake Authentication Protocol (CHAP) và Internet Protocol Security (IPsec), cả hai đều dành riêng cho iSCSI.
CHAP hoạt động bằng cách thừa nhận một liên kết giữa người khởi xướng và mục tiêu. Trước khi dữ liệu truyền, CHAP gửi thông báo thách thức đến người yêu cầu kết nối. Người yêu cầu gửi lại một giá trị xuất phát từ hàm băm để máy chủ xác thực. Nếu các giá trị băm khớp, liên kết sẽ kích hoạt. Nếu không, CHAP chấm dứt kết nối.
Đối với các gói iSCSI chạy trên mạng Internet, giao thức IPsec xác thực và mã hóa các gói dữ liệu được gửi qua mạng Internet. Việc sử dụng chính của nó là trong IPsec xác thực lẫn nhau giữa các tác nhân (máy chủ đến máy chủ, mạng nối tiếp hoặc mạng với máy chủ). Giao thức cũng đàm phán mã hóa và giải mã trong phiên và hỗ trợ xác thực ngang hàng nguồn gốc dữ liệu và cấp độ mạng và xác thực tính toàn vẹn dữ liệu. Vì IPsec rất phức tạp để triển khai và định cấu hình, nên việc sử dụng chính của nó là trong VPN (mạng riêng ảo) vận chuyển dữ liệu nhạy cảm.
Các biện pháp bảo mật iSCSI bổ sung bao gồm sử dụng danh sách kiểm soát truy cập (ACL) để kiểm soát truy cập dữ liệu người dùng và bảng điều khiển quản lý an toàn.
  

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2020

Vịnh cây cau

 

Đứng thẳng xoè tay đỡ lấy trời

Không cành chẳng nhánh một thân chơi

Che sương ấp bẹ chờ hoa nở

Chắn nắng khum tàu đợi quả phơi


Đắng ruột dồn thơm cho miệng thế

Cay nhân góp đỏ tặng môi đời

Bao dung hứng cả đàn chim đậu

Giống tốt lưu truyền khắp mọi nơi...

"Tứ thập vọng tài, ngũ thập vọng nhân": bước vào tuổi trung niên, 3 không so, 3 không gần, mới mong thịnh vượng

 

Con người ta, ở mỗi một giai đoạn sống, sẽ có một cảm ngộ và phương thức sống khác nhau. Ở độ tuổi tứ tuần, nếu muốn vượng tài, thì có 3 không so. Ở độ tuổi ngũ tuần, khi đã nhìn thấu được thói đời rồi, thì có 3 không gần. Đây là điều mà thiết nghĩ ai trong chúng ta cũng cần hiểu trong cuộc sống.

Một không so: Không so sánh tiền bạc, sự giàu có

40 là giai đoạn chín chắn của một người, và cũng là giai đoạn mà con người ta nên học cách buông bỏ những sự so sánh không cần thiết.

Trong cuộc sống nhiều bộn bề, những thứ chúng ta phải đối mặt tất nhiên sẽ ngày một nhiều lên, mặc dù giữa người với người không thể tránh khỏi sự so sánh nhưng có những thứ, chúng ta chỉ cần giữ ở trong lòng thôi là được.

Sự so sánh mà bạn đưa ra không những không có tác dụng thúc đẩy một người, mà nhiều khi nó sẽ càng khiến họ trở nên tự ti hơn, cảm giác thế giới chỉ toàn là sự ác ý, khiến họ cảm thấy mình không bằng người, đợi tới lúc thành công rồi, nhiều tiền rồi sẽ quay lại trở nên cao ngạo tự mãn, vì muốn chứng minh với đời, đây là mặt hạn chế mà so sánh đem lại.